Hoàng Đế Quang Trung mang gạo từ Gia Định cứu đói miền bắc 1789

Kỹ sư Vũ Đình Thanh vừa công bố một công trình nghiên cứu kéo dài hơn 10 năm liên quan đến giai đoạn cuối thế kỷ XVIII của lịch sử Việt Nam, với trọng tâm là vai trò của Hoàng đế Quang Trung trong tiến trình thống nhất đất nước. Nghiên cứu dựa trên nhiều tư liệu lưu trữ tại Pháp, kết hợp với phân tích hậu cần quân sự, kỹ thuật xây dựng và dữ liệu hàng hải thời kỳ cận đại.

Theo Kỹ sư Vũ Đình Thanh, công trình đã được Thượng tướng, Viện sĩ, Tiến sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Huy Hiệu – nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng xem xét và hoàn toàn  đồng tình.

Thượng tướng, Viện sĩ, Tiến sĩ, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Huy Hiệu mong tất cả nhân dân tự tìm tại lưu trữ quốc gia Pháp Gallica bản Hịch năm 1792 của Hoàng đế Quang Trung hiệu triệu toàn dân đánh Tây với tàu đồng và khinh khí cầu, khen ngợi dân Gia Định dũng cảm đứng lên chống Tây mắt rắn xanh – những xác chết trôi dạt từ biển Bắc.

Từ nhiều năm nay, nhóm nghiên cứu đặt ra hàng loạt câu hỏi liên quan đến cục diện lịch sử giai đoạn Tây Sơn – Nguyễn Ánh, như: Vì sao sau chiến thắng quân Thanh năm 1789, vua Quang Trung không tiến quân vào Gia Định? Vì sao Nguyễn Ánh được cho là đã kiểm soát Gia Định từ năm 1788 nhưng không có động thái quân sự lớn khi Tây Sơn đưa đại quân ra Bắc? Và vì sao năm 1791, quân Tây Sơn tiến sang Lào nhưng không mở chiến dịch lớn chống Nguyễn Ánh?

Kỹ sư Thanh còn nêu bật một luận điểm sâu sắc về an ninh lương thực của Đại Việt giai đoạn 1787–1792, đồng thời chứng minh: chiến dịch giải phóng Thăng Long không chỉ là một đòn phản công quân sự thần tốc, mà còn là một cuộc cứu trợ nhân đạo vĩ đại của Hoàng đế Quang Trung, nhằm đập tan mưu đồ diệt chủng sinh học tàn bạo của Thanh triều.

Cuối thế kỷ XVIII, thế giới chìm trong đỉnh điểm của Tiểu Băng Hà. Tại châu Âu, mùa đông năm 1788 lạnh giá chưa từng thấy đã hủy diệt nền nông nghiệp, gây ra nạn đói khủng khiếp và trở thành ngòi nổ trực tiếp cho cuộc Cách mạng Pháp (tháng 7 năm 1789). Cùng thời khắc ấy, Bắc Hà và Thanh-Nghệ hứng chịu thiên tai dồn dập: mùa hè năm 1788, hạn hán thiêu đốt, châu chấu che rợp bầu trời; mùa thu năm ấy, bão lụt liên tiếp càn quét, san phẳng toàn bộ hệ thống đê điều vốn đã kiệt quệ sau những cuộc binh đao liên miên. Vụ mùa chính – nguồn sống duy nhất của hàng triệu người dân – bị xóa sổ hoàn toàn.

Bắc Hà cuối năm 1788 kiệt quệ đến tận cùng sinh mệnh. Đúng lúc nhân dân đang thoi thóp bên bờ vực thẳm, 29 vạn quân Thanh tràn qua biên giới, tiến vào Thăng Long, khoác lên mình tấm áo “phù Lê” dối trá. Chính chúng đã biến một thảm họa thiên tai thành một thảm họa diệt chủng do con người gây ra. Tôn Sĩ Nghị ép chính quyền bù nhìn Lê Chiêu Thống xuống chiếu, buộc các trấn phải gom nộp tất cả lương thực. Quân Thanh thao túng thị trường, bóp nghẹt mọi nguồn cung, đẩy giá gạo lên mức “đắt như ngọc”.

Chính trong khoảnh khắc nguy nan ấy, theo ghi chép của chính sử nhà Nguyễn và các nhà truyền giáo, từ Nghệ An, Thanh Hóa trở ra Bắc, nạn đói hoành hành năm này qua năm khác, và đỉnh điểm là năm 1788. Ngay lúc ấy, từ Gia Định trù phú – vựa thóc khổng lồ của Đại Việt – một sự kiện lịch sử đã diễn ra: 50 tàu lương thực khổng lồ được tập trung. Kỹ sư Thanh khẳng định đoàn thuyền ấy là một sự thật lịch sử, nhưng đích đến thực sự không phải là nơi nào xa lạ, mà chính là các bến cảng tại Nghệ An và Thanh Hóa.

Chính những con thuyền chở đầy ắp hạt ngọc cứu đói từ phương Nam đã cứu sống đồng bào Thanh-Nghệ khỏi nạn đói kinh hoàng. Lương thực ấy không chỉ hồi sinh sự sống, mà còn thắp lên ngọn lửa yêu nước, khiến tám vạn thanh niên Thanh Nghệ trở thành những chiến binh bách chiến bách thắng dưới cờ đào của Hoàng đế Quang Trung. Tiếng hô vang dội của hàng vạn quân Đại Việt khi bao vây đồn giặc không chỉ là lòng yêu nước, mà còn là sức mạnh của những con người suýt nữa đã chết đói.

Sau đại thắng mùa xuân Kỷ Dậu, vị Hoàng đế anh minh còn tuyên bố miễn toàn bộ thuế nông nghiệp trong suốt ba năm cho toàn dân miền Bắc. Một câu hỏi mang tầm vóc lịch sử được đặt ra: nếu không có Gia Định – vựa lúa trù phú nhất trời Nam – nhà Tây Sơn lấy đâu ra sức mạnh vật chất để nuôi ba mươi vạn quân hùng binh, để đồng loạt mở chiến dịch chinh phạt Ai Lao, thông đường sang Miến Điện, để duy trì thế đối đầu ngoại giao căng thẳng với nhà Thanh, để xây dựng các công trình thành lũy chiến lược ngay trên đất Nghệ An, và để hào phóng ban phát ân huệ miễn thuế cho trăm họ?

Gia Định không chỉ là hậu phương, mà chính là trái tim kinh tế, là nền tảng sống còn cho toàn bộ vương triều Tây Sơn. Kỹ sư Thanh vạch rõ: việc nhà Nguyễn tìm mọi cách lùi thời điểm chiếm đóng Gia Định về năm 1788 chính là một toan tính hòng xóa sạch công lao trời bể của Hoàng đế Quang Trung – người đã cứu toàn bộ Bắc Hà khỏi thảm họa nạn đói diệt chủng, một thảm kịch kinh hoàng không khác gì nạn đói năm 1945.

Bằng chứng từ bộ hồ sơ tối mật Khâm định An Nam kỷ lược – tập hợp nguyên bản 378 văn kiện gồm chiếu biểu, hịch văn và tấu thư tối mật qua lại giữa vua Càn Long, Tôn Sĩ Nghị và các tổng đốc nhà Thanh, phát ra đúng trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 1788 đến tháng 3 năm 1791 – tuyệt đối không có sự xuất hiện của Nguyễn Ánh.

Các sắc lệnh hành chính, thư từ bang giao do vương triều Chakri (Xiêm La) phát ra đúng trong giai đoạn 1787–1792, người ta cũng không tìm thấy một văn bản chính thức nào giao dịch với một chính quyền của Nguyễn Ánh tại Gia Định.

Chính sử nhà Nguyễn đã tự mình ghi lại một sự thật không thể chối cãi: mãi đến tận tháng 12 năm Bính Thìn, tức cuối năm 1796, Nguyễn Ánh mới lần đầu tiên ra lệnh đúc tiền kẽm tại Gia Định. Trước thời điểm ấy, Nguyễn Ánh chưa hề phát hành bất kỳ loại tiền tệ nào. Nhà Nguyễn cũng không thể dùng phép thuật để nhét ngược bất cứ đồng tiền nào của Nguyễn Ánh vào lòng đất Nam Bộ, dưới những tầng địa chất khảo cổ của giai đoạn 1787–1796. Sự thật phũ phàng là: trong suốt giai đoạn 1787–1796, lòng đất Nam Bộ chỉ chứa đầy tiền đồng Quang Trung Thông Bảo và Cảnh Thịnh Thông Bảo của Tây Sơn. Đây chính là bằng chứng thép không thể chối cãi: Nguyễn Ánh hoàn toàn không hề nắm quyền kiểm soát Gia Định trong suốt những năm 1787–1792.

Năm 1789, Hoàng đế Quang Trung không mang quân đánh Gia Định sau đại thắng quân Thanh vì Gia Định không có kẻ thù 

Một trong những tư liệu được nhóm nghiên cứu nhấn mạnh là bản Hịch đề ngày 27/8/1792 của vua Quang Trung, do các giáo sĩ phương Tây ghi chép bằng tiếng Pháp và hiện lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Pháp (Gallica). Nội dung văn bản mô tả Nguyễn Ánh là người “không quân, không tướng”, “thất bại liên tiếp” và đang lưu lạc cầu viện tại châu Âu.

Theo Kỹ sư Vũ Đình Thanh, bản tiếng Pháp của tài liệu này cho thấy vào thời điểm năm 1792, Nguyễn Ánh không hiện diện tại Gia Định. Ông cho rằng điều này lý giải vì sao vua Quang Trung không mở chiến dịch lớn vào Nam sau chiến thắng quân Thanh.

Trong bản Hịch, Hoàng đế Quang Trung ra lời hiệu triệu vĩ đại tới toàn dân Đại Việt thống nhất từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, ngợi khen đồng bào Gia Định là tuyến đầu anh dũng chống giặc ngoại xâm châu Âu. Người khẳng định toàn dân chung một dòng máu Lạc Hồng cốt nhục, và đại quân Đại Việt sẽ bóp nát lũ giặc mắt rắn xanh, những xác chết trôi dạt từ biển Bắc với hạm đội tàu đồng, khinh khí cầu, dễ như bẻ vụn khúc củi khô. Đây là bản hiệu triệu đầu tiên chống thực dân phương Tây mà người Việt đời nay, dù bất kỳ lý do gì, không được bỏ qua và quên lãng.

Nhóm nghiên cứu cũng cho biết, một số bản dịch tiếng Việt xuất hiện từ thập niên 1960 có cách diễn giải khác với nguyên văn tiếng Pháp, dẫn đến nhận thức rằng Gia Định đã thuộc quyền kiểm soát của Nguyễn Ánh trong thời gian dài trước năm 1792.

Hịch của Hoàng đế Quang Trung trong sách Etat actuel du Tunkin (Montyon, 1811), hiện lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Pháp (BnF/Gallica), ghi rõ Nguyễn Ánh đã chạy sang châu Âu. Trên thế giới, bài hịch này với nội dung Nguyễn Ánh đang lưu vong ở châu Âu năm 1792 được lưu trữ tại ít nhất 5 thư viện uy tín nhất thế giới.

Ngoài bản Hịch, Kỹ sư Vũ Đình Thanh còn viện dẫn nhiều tài liệu của giáo sĩ La Bissachère và các bản đồ hàng hải lưu trữ tại Pháp. Theo ông, những tư liệu này phản ánh sự hiện diện đáng kể của lực lượng quân sự Pháp tại Đông Dương cuối thế kỷ XVIII, trong đó có các hoạt động hỗ trợ Nguyễn Ánh.

Một trong những luận điểm đáng chú ý của nghiên cứu là việc Hiệp ước Versailles  có thể tồn tại dưới hai phiên bản khác nhau: một phiên bản quy mô nhỏ với khoảng 1.650 binh sĩ và 4 tàu chiến, và một phiên bản khác được Thứ trưởng Bộ Hải quân Anh John Barrow mô tả với 20 tàu chiến cùng 7 trung đoàn (khoảng 15.000 quân). Từ bản hịch năm 1792, Hoàng đế Quang Trung đã trực tiếp vạch trần việc Nguyễn Ánh ký hiệp ước này với vua Pháp.

Kỹ sư Vũ Đình Thanh cho rằng, đội quân đầu tiên đã thất bại khi tiến vào Việt Nam năm 1788. Theo ông, chỉ một chiến hạm duy nhất rút lui được về Mauritius cùng Bá Đa Lộc và Nguyễn Ánh. Từ đây, ông đặt giả thuyết rằng Nguyễn Ánh đã trực tiếp sang châu Âu để ký các phụ lục quân sự mở rộng với Pháp.

Nội dung Hiệp ước Versailles do thứ trưởng bộ hải quân Anh  John Barrow mô tả bao gồm 20 chiến thuyền, 7 trung đoàn với 15.000 quân, được trang bị tàu đồng và khinh khí cầu – những công nghệ hiện đại bậc nhất thời bấy giờ. Công ty Đông Ấn Pháp đã rút toàn bộ quân khỏi Ấn Độ, dồn mọi nguồn lực vào Đại Việt nhưng không thể khuất phục được đất nước này, dẫn đến phá sản. Sự phá sản của công ty đã đẩy nước Pháp vào cảnh bần cùng, khiến nhân dân nổi dậy phế truất và xử tử vua Pháp vào năm 1793.

Nhóm nghiên cứu cũng phân tích các bản đồ thành Vauban Gia Định và cho rằng công trình này được xây dựng chủ yếu bởi lực lượng công binh Pháp từ sau năm 1792, thay vì hoàn thành từ năm 1790 như nhiều tài liệu trước đây ghi nhận. Dấu của Bộ Hải quân Thuộc địa Pháp là loại dấu từ 1799 đến 1804, tức là đến năm 1799, phía Pháp không có một văn bản hành chính nào công nhận sự tồn tại của tòa thành này. Người thiết kế xây dựng thành Vauban phức tạp là Olivier (ông Tín) – năm 1790 mới chỉ 19 tuổi, đã là đại tá và không có bằng cấp kỹ sư xây dựng – là những điểm quá vô lý, mang tính chất “tây thực dân lừa dân thuộc địa thấp hèn”.

Bản đồ Vauban Gia Định: ‘Olivier 19 tuổi làm đại tá. 19 tuổi xây thành Vauban. Sự thật hay trò hề thực dân? Con dấu của Bộ Hải quân và Thuộc địa Pháp – loại dấu chỉ có từ năm 1799 – chính là bằng chứng thép: trước năm 1799, Pháp chưa từng công nhận tòa thành này tồn tại.

Dẫn các bản đồ lưu trữ tại Gallica cùng dấu mộc của Bộ Hải quân và Bộ Ngoại giao Pháp, Kỹ sư Vũ Đình Thanh nhận định Pháp chỉ thực sự kiểm soát Côn Đảo và thiết lập hiện diện quân sự quy mô lớn tại Gia Định từ năm 1792.

Bản đồ Côn Đảo với dấu của Bộ Ngoại giao Pháp từ năm 1792 đã xác nhận sự hiện diện của quân đội Pháp (Trại lính Pháp) tại Côn Đảo. Đây chính là bằng chứng cho thấy Pháp chỉ chiếm được Côn Đảo từ năm 1792, sau khi đổ bộ hàng vạn quân vào Đại Việt.

Một hướng nghiên cứu khác của ông liên quan đến vai trò của diêm tiêu và phốt pho trong công nghệ quân sự cuối thế kỷ XVIII. Theo phân tích của Kỹ sư Vũ Đình Thanh, nguồn nguyên liệu từ hang dơi và đảo chim ở Biển Đông có ý nghĩa chiến lược đặc biệt đối với sản xuất thuốc súng thời kỳ đó, khiến khu vực Đông Dương trở thành mục tiêu cạnh tranh của các cường quốc châu Âu.

Ông cho rằng chính sự kháng cự quyết liệt của Tây Sơn đã khiến các kế hoạch quân sự và thương mại của Công ty Đông Ấn Pháp gặp khủng hoảng, góp phần làm gia tăng khó khăn tài chính tại Pháp trước Cách mạng Pháp năm 1793.

Nghiên cứu cũng đề cập đến nhiều bản đồ hàng hải và nhật ký hải quân Pháp, trong đó có tài liệu liên quan đến chiến hạm La Méduse giai đoạn 1789–1790. Theo kỹ sư Thanh, suy từ các bản đồ, việc tàu Pháp không tiến sâu vào sông Sài Gòn cho thấy khu vực Gia Định thời điểm đó nằm trong vòng kiểm soát quân sự chặt chẽ của Tây Sơn, đồng thời là bằng chứng rõ ràng về hoạt động trinh sát, chuẩn bị chiến dịch và can thiệp quân sự của hải quân Pháp tại Đại Việt. Các bản đồ được vẽ trên soái hạm Méduse còn mô tả biển và bờ biển Việt Nam trong giai đoạn 1788–1790 liền một dải với các pháo đài phòng thủ,không có ranh giới vùng Gia Định ,  chứng minh Đại Việt hoàn toàn do Tây Sơn làm chủ mà không có bất kỳ vùng cát cứ nào khác.

Bản đồ được vẽ trên soái hạm quân sự lớn nhất nước Pháp năm 1790. Đi cùng soái hạm này phải có ít nhất 3 chiến hạm hộ tống, tức quân số lên tới 1000 tên. Đây là bằng chứng thép còn sót lại tại Lưu trữ Quốc gia Pháp (Gallica) về việc hải quân Pháp vẽ bản đồ tác chiến trước trận đánh Đại Việt, là nguyên nhân khiến Hoàng đế Quang Trung ra bản hịch năm 1792.

Từ các chuỗi dữ liệu được tổng hợp, Kỹ sư Vũ Đình Thanh kết luận rằng cuộc chiến cuối thế kỷ XVIII không phải là nội chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, mà là một cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống lại chủ nghĩa tư bản phương Tây, được tổ chức và tiếp sức bởi công ty Đông Ấn Pháp. Hãy nhìn sang châu Phi, Ấn Độ, chính các công ty Đông Ấn châu Âu đã thôn tính hàng loạt vùng đất để lập nên thuộc địa, bắt đi hàng vạn nô lệ bán sang châu Mỹ. Ông cho rằng sức mạnh quân sự của Tây Sơn đã góp phần kéo dài nền độc lập của Đại Việt thêm nhiều thập niên, và cũng chính nhờ đó, người Việt đã không bị bắt làm nô lệ.

“Những luận điểm được xây dựng trên nền tảng tư duy kỹ thuật, quản trị chuỗi cung ứng và kiểm toán hệ thống. Toán học, vật lý, hóa học và dữ liệu hậu cần không biết nói dối”, Kỹ sư Vũ Đình Thanh nhấn mạnh.

Hiện công trình nghiên cứu đang tiếp tục thu hút nhiều ý kiến trao đổi trong giới nghiên cứu lịch sử, đặc biệt liên quan đến việc đối chiếu các nguồn tư liệu phương Tây và sử liệu chính thống Việt Nam về giai đoạn cuối thế kỷ XVIII.