“Tư liệu Pháp và cách nhìn khác về cuộc chiến Tây Sơn – Nguyễn Ánh”

Kỹ sư Vũ Đình Thanh, với công trình nghiên cứu hơn 10 năm đã tìm được những bằng chứng bằng việc sử dụng kiến thức chuyên sâu về khoa học tự nhiên, về hậu cần quân sự đã tìm ra những điều trên. Nghiên cứu này được Thượng tướng, Viện sĩ, Tiến sĩ, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Huy Hiệu kiểm tra kỹ lưỡng và hoàn toàn đồng tình.

Kỹ sư Thanh, Thượng tướng Hiệu và rất nhiều cán bộ quân đội đã nhiều lần trăn trở với câu hỏi: Vì sao khi Hoàng đế Quang Trung năm 1789 mang toàn bộ đại quân đánh quân Thanh, mà Nguyễn Ánh theo sử sách đã chiếm Gia Định từ 1788 lại không làm gì? Vì sao vua Quang Trung đại thắng quân Thanh năm 1789 mà không mang đại quân với hừng hực khí thế vào Gia Định tiêu diệt Nguyễn Ánh? Vì sao năm 1791 Hoàng đế Quang Trung cử Đô đốc Trần Quang Diệu mang hàng vạn quân đánh chiếm Lào, khiến vua Lào phải chạy sang Thái Lan, mà lại không mang quân đánh Nguyễn Ánh? Vì sao một thiên tài quân sự như Quang Trung lại có những hành động vô cùng khó hiểu, đi ngược lại với tất cả các kiến thức tối thiểu về quân sự?

Theo kỹ sư Vũ Đình Thanh chia sẻ, Hoàng đế Quang Trung đã thống nhất Đại Việt từ ngoài ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, chủ quyền trên Hoàng Sa, Trường Sa, Phú Quốc, Côn Đảo, dùng thủy quân và cướp biển quốc tế khống chế Biển Đông, thực tế chiếm lĩnh Campuchia và Lào, đang đòi đất Lưỡng Quảng. Nhân dân Gia Định đang yên vui dưới sự trị vì của Hoàng đế Quang Trung thì sao mà phải mang quân vào Gia Định! Tất nhiên, giai thoại Nguyễn Ánh mang 50 thuyền chở gạo ra giúp quân Thanh mà bao nhiêu người lên án bấy lâu nay là sản phẩm quá thiên tài của các quân sư Nguyễn Ánh.

Bản Hịch năm 1792 (bản tiếng Pháp do giáo sĩ lưu giữ) Ảnh: NVCC

Bằng chứng đầu tiên đó là Hịch của Hoàng đế Quang Trung ngày 27/8/1792, được các giáo sĩ phương Tây ghi lại và công bố lần đầu tiên trên tờ Tin tức Giáo hội Phương Đông (Nouvelles des Missions Orientales), mà các Giám đốc Chủng viện của Hội Truyền giáo Đối ngoại ở London đã nhận được vào những năm 1793, 1794, 1795. Bản tiếng Pháp đó còn lại đến ngày nay, đang được lưu trữ chính thức tại Thư viện Quốc gia Pháp (Gallica). Trong bản Hịch này ghi rõ: Nguyễn Ánh không quân, không tướng, bị thất bại liên tiếp – điều mà nhân dân Đại Việt từ Gia Định đến toàn Việt Nam ai cũng mắt thấy tai nghe – và là kẻ khốn khổ đang lang thang cầu viện ở các vương quốc bất hạnh châu Âu.


Hịch của Hoàng đế Quang Trung trong sách Etat actuel du Tunkin (Montyon, 1811), hiện lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Pháp (BnF/Gallica), ghi rõ Nguyễn Ánh đã chạy sang châu Âu. Trên thế giới, bài hịch này với nội dung Nguyễn Ánh đang lưu vong ở châu Âu năm 1792 được lưu trữ tại ít nhất 5 thư viện uy tín nhất thế giới. Ảnh: NVCC

Việc Nguyễn Ánh không hề xuất hiện tại Đại Việt nói chung hay Gia Định nói riêng được nhấn mạnh rõ ràng qua câu: “Các ngươi đã chứng kiến những gì chúng ta nói, và nếu các ngươi chưa tận mắt chứng kiến, thì ít nhất các ngươi cũng đã nghe thấy.” Có nghĩa là, vào thời điểm vua Quang Trung ra hịch năm 1792, đã có một thế hệ “ít nhất cũng đã nghe thấy” họ hoàn toàn không chứng kiến việc quân của Nguyễn Ánh đại bại (dù rằng “Gia Định đầy rẫy xương cốt của chúng”) mà chỉ còn nghe kể lại. Điều này hoàn toàn logic, bởi từ năm 1783, Nguyễn Ánh đã không thể xuất hiện ở Gia Định, và đến năm 1792, thế hệ trẻ chỉ còn “nghe thấy”.

Năm 1789, Hoàng đế Quang Trung không mang quân đánh Gia Định sau đại thắng quân Thanh vì lý do rất đơn giản: Nguyễn Ánh là kẻ khốn khổ (misérable) đang lưu lạc ở Mauritius / châu Âu; dân Gia Định đang yên vui dưới triều đại Quang Trung và không biết Nguyễn Ánh ở đâu. Ảnh: NVCC

Không biết vì lý do gì mà những dịch giả từ năm 1965 lại cho ra một bản dịch với nội dung hoàn toàn khác biệt. Trong khi Hoàng đế Quang Trung trách những thần dân thân yêu nhưng nhút nhát của Gia Định rằng: dù đã biết đứng lên chống giặc, tại sao khi giặc phương Tây với tàu đồng, khinh khí cầu đến lại sợ, tại sao không đánh Tây mà đã bỏ chạy, dẫn đến mất đất để Tây chiếm… thì các dịch giả này lại dịch để người đọc hiểu hoàn toàn ngược lại: “tại sao dân Gia Định làm phản đánh Tây Sơn và quân Tây Sơn lại sợ dân Gia Định”.

Chính cách dịch sai này khiến cho nhiều người đọc bản dịch mà không xem bản tiếng Pháp sẽ có cảm tưởng rằng Nguyễn Ánh đã chiếm Gia Định và đang mang quân ra đánh Tây Sơn ở các khu vực khác, mặc dù phần trước đó của Hịch đã nói rõ: “Gia Định đầy rẫy xương cốt của chúng”.


Dù Hoàng đế Quang Trung mất đi, nhưng Tây Sơn với vũ khí phốt pho đã suýt đại thắng đội quân 66.200 quân Pháp/Ấn, qua đó kéo dài nền độc lập của Đại Việt thêm gần 100 năm, đồng thời giúp Nguyễn Ánh không bị biến thành một vị vua bù nhìn ngay lập tức, như vô vàn vua chúa ở Ấn Độ và châu Phi.

Bài hịch này do giáo sĩ La Bissachère ghi chép, hiện được lưu trữ chính thức tại Thư viện Quốc gia Pháp (BnF/ Gallica) trong hai ấn phẩm: La relation sur le Tonkin et la Cochinchine (Maybon, 1920) và Etat actuel du Tunkin (Montyon, 1811). Trên thế giới, bài hịch của Hoàng đế Quang Trung còn được lưu trữ tại ít nhất 5 thư viện uy tín khác, tất cả đều có thể được kiểm chứng một cách độc lập. Bằng chứng rõ ràng cho thấy: vào năm 1792, Nguyễn Ánh hoàn toàn không thể có mặt ở Gia Định

Ngoài bản Hịch của vua Quang Trung, mặc dù có dấu hiệu kiểm duyệt của phía Pháp, vẫn còn sót lại những ghi chép chứng minh rõ ràng cuộc chiến đấu chống thực dân xâm lược của Đại Việt: lực lượng pháo binh trực tiếp đánh nhau với quân Tây Sơn là người Pháp (quy mô 15.000 quân); lính Việt phải tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh của chỉ huy Pháp; hàng loạt lính Pháp tham gia đổ bộ đã bị ốm; có đến 7 lần trực tiếp khẳng định việc Nguyễn Ánh đã sang châu Âu diện kiến vua Pháp; xác nhận tàu chiến châu Âu đã trực tiếp tham chiến, đánh nhau với quân Tây Sơn.

Thượng tướng, Viện sĩ, Tiến sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Huy Hiệu đã kiểm tra và hoàn toàn đồng tình: Hoàng đế Quang Trung đã thống nhất Đại Việt từ năm 1789, với lãnh thổ trải dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Đảo, Phú Quốc, có diện tích rộng gấp 1,7 lần so với lãnh thổ Việt Nam ngày nay.

Thêm nữa, từ cuốn sách còn xác nhận vua Pháp cùng Công ty Đông Ấn Pháp đã làm việc với Nguyễn Ánh để Công ty Đông Ấn Pháp có được độc quyền tại Việt Nam; các sĩ quan Pháp bên cạnh Nguyễn Ánh chính là người của Công ty Đông Ấn Pháp.

Từ việc rà soát cuốn sách ghi chép của La Bissachère (hiện đang được lưu trữ chính thức tại Thư viện Quốc gia Pháp – Gallica), Kỹ sư Thanh đã giải mã được một điểm phi logic bấy lâu nay: Việc Bá Đa Lộc – một giáo sĩ người Pháp lại đứng ra ký hiệp ước thay cho Nguyễn Ánh. Thực chất, vỏ bọc “ủy quyền” này chỉ là thủ đoạn của sử sách thực dân và nhà Nguyễn sau này nhằm che đậy sự thật.

Căn cứ vào chính nội dung tài liệu của Pháp với ít nhất 7 lần khẳng định sự có mặt trực tiếp của Nguyễn Ánh tại châu Âu để gặp triều đình Versailles, kết hợp cùng logic pháp lý trên bàn đàm phán, có thể khẳng định: Chính Nguyễn Ánh mới là người trực tiếp đặt bút ký vào Hiệp ước Versailles (1787) cùng các phụ lục bán nước, nhượng lãnh thổ. Văn bản gốc tại thư viện Gallica chính là bằng chứng thép, không thể chối cãi cho sự thật này.

Bản đồ Vauban Gia Định được khởi công bởi ít nhất 5.000 lính thợ châu Âu từ năm 1792, hoàn thiện phần thô vào năm 1795 và được bàn giao cho Bộ Hải quân và Thuộc địa Pháp vào năm 1799. Chính con dấu mật của Bộ Hải quân Thuộc địa đóng trên bản đồ là bằng chứng rõ ràng, xác nhận thành lũy này là tài sản trực thuộc Bộ Hải quân Thuộc địa Pháp.

Từ bản Hịch 1792, Kỹ sư Thanh tìm ra thông tin từ châu Âu: Công ty Đông Ấn Pháp (Công ty Đông Ấn mới – tên chính thức là Compagnie des Indes orientales et de la Chine – Công ty Đông Ấn và Trung Quốc) đã huy động một lực lượng quân sự khổng lồ người châu Âu (mắt rắn xanh) – vì thế trong Hịch vua không nói cụ thể nước châu Âu nào, bởi không có nước nào tuyên chiến với Đại Việt – với trang bị hiện đại nhất như tàu đồng, đặc biệt là khinh khí cầu quân sự, loại thiết bị mà Công ty Đông Ấn Pháp đã sử dụng trước khi quân đội Pháp sử dụng đại trà vào năm 1794, để đánh Đại Việt.

Đợt huy động quân sự này trùng hợp với nội dung Hiệp ước Versailles mà John Barrow đã viết là 20 tàu chiến và 7 trung đoàn 15000 quân . Để huy động được lực lượng quân sự khổng lồ với trang thiết bị kỹ thuật tối tân nhất thời đó, nước Pháp đã phải bỏ một loạt nơi khác, kể cả thuộc địa lâu năm tại Ấn Độ là Pondichéry (khiến dân Pháp tại đó biểu tình năm 1792 vì cả Pondichéry rộng lớn chỉ có 450 lính Pháp), và rồi để Anh chiếm dễ dàng năm 1793.

Bản đồ Côn Đảo với dấu của Bộ Ngoại giao Pháp từ năm 1792 đã xác nhận sự hiện diện của quân đội Pháp (Trại lính Pháp) tại Côn Đảo. Đây chính là bằng chứng cho thấy Pháp chỉ chiếm được Côn Đảo từ năm 1792, sau khi đổ bộ hàng vạn quân vào Đại Việt.

Cho đến năm 1912, tất cả súng pháo để bắn được cần thuốc súng (với 75% diêm tiêu). Dù các nhà khoa học châu Âu có chế tạo được máy bay, tàu ngầm đi chăng nữa, thì để chế tạo được thuốc súng phải sử dụng 75% diêm tiêu mà hoàn toàn không có cách khác – và diêm tiêu thì được chiết xuất từ phân dơi. Nước Pháp bị mất nguồn diêm tiêu tại Ấn Độ sau thời gian dài chiến tranh rồi thất bại với Anh, và chỉ còn trông chờ vào diêm tiêu từ các hang dơi tại Việt Nam mà thôi.

Chính vì thế, nước Pháp thông qua Công ty Đông Ấn Pháp (y hệt như mô hình Công ty Đông Ấn Anh độc chiếm Ấn Độ vì diêm tiêu) đã đầu tư cho một ván bài tất tay: rút tất cả các chỗ khác,  chuyển tất cả những gì Pháp có ở Ấn Độ cả trăm năm sang Việt Nam , tập trung quân Pháp đánh Đại Việt, đầu tư tiền khổng lồ,  tưởng là dễ nhằn. Dè đâu Đại Việt có vũ khí phốt pho và Công ty Đông Ấn Pháp đã bị sa lầy, dẫn tới vụ phá sản nổi tiếng trong lịch sử nước Pháp của Công ty Đông Ấn Pháp năm 1793.

Kỹ sư Thanh có bằng chứng về việc Công ty Đông Ấn Pháp đang làm ăn phát đạt tại Trung Quốc đã không có bạc để trả sang Trung Quốc, và hàng loạt hành động huy động quân lính khắp nơi. Việc kháng cự mãnh liệt của Đại Việt đã khiến ngân khố Pháp cạn kiệt và là nguyên nhân trực tiếp khiến nhân dân nổi dậy phế truất vua Pháp rồi giết chết vua Pháp năm 1793.

Cũng từ bản Hịch của vua Quang Trung, Kỹ sư Thanh đã giải mã một vấn đềquanh Hi ệp ước Versailles 1787: đó là hiệp ước này có hai phiên bản – một phiên bản chỉ 1.650 lính và 4 tàu chiến được nhiều nhà sử học mô tả, và phiên bản 20 tàu chiến và 7 trung đoàn (15.000 quân) mà John Barrow mô tả. Kỹ sư Thanh đã giải mã được việc này: vua Pháp ký hiệp ước 1787 với phiên bản 1.650 lính và 4 tàu chiến.


Từ trang lưu trữ Quốc gia Pháp (Gallica), bản đồ Vũng Tàu của Đô đốc Đế chế Rosily trên siêu hạm La Méduse (1789–1792) chứng minh Rosily không dám thả quân đo đạc cửa sông Sài Gòn. Chiến hạm 60 pháo, 500 quân không dám tiến vào Gia Định dù sông sâu vì khiếp sợ hỏa lực Tây Sơn thiêu cháy như Manuel. Cùng với sự im lặng của sử Nguyễn và việc vắng bóng hoàn toàn ngoại giao, thương mại hay thư từ giáo sĩ, vật chứng này xác nhận Hịch Quang Trung 1792: Nguyễn Ánh kẻ khốn khổ “misérable” đang biệt tích. Gia Định do Tây Sơn phong tỏa tuyệt đối cho đến khi giặc phương Tây đổ bộ năm 1792.

Theo các thông tin từ nhật ký hành trình còn lưu đến nay, đội quân 1.650 quân, 4 chiến hạm này về Việt Nam năm 1788 và bị quân đội của Hoàng đế Quang Trung thiêu rụi chỉ trong một trận. Từ 1.650 tên lính và 4 chiến hạm, chỉ còn soái hạm Medusa chạy thoát với 80 lính (soái hạm Medusa đã bị Tây Sơn thiêu cháy năm 1797). Chính cái số 80 người Pháp giúp Nguyễn Ánh mà sử sách phương Tây mô tả rầm rộ đó là số 80 lính thoát chết trên con tàu duy nhất thoát về Mauritius cùng với Bá Đa Lộc và Nguyễn Ánh.

Chính vì thế, hệ thống tình báo đồ sộ của Tây Sơn và toàn dân Đại Việt, kể cả dân Gia Định, đều không biết Nguyễn Ánh (“kẻ khốn khổ” – misérable theo cách dịch của các nhà truyền giáo, trùng tên với tác phẩm Những kẻ khốn khổ của Victor Hugo) ở đâu và chỉ dự đoán là chạy sang châu Âu cầu viện. Tại châu Âu hay tại Mauritius, Nguyễn Ánh đã ký phụ lục tất tay mà John Barrow mô tả: 20 chiến hạm, 7 trung đoàn, 15.000 quân.

Tất nhiên, còn một bằng chứng vật lý đanh thép nữa không thể chối cãi: Bản đồ thành Vauban Gia Định mang con dấu mộc đỏ nguyên thủy của Cục Lưu trữ Bản đồ thuộc Bộ Hải quân Pháp (Dépôt des cartes et plans de la Marine). Qua quá trình giám định, Kỹ sư Thanh đã bóc trần được niên đại thực sự: Loại hình ấn triện mỏ neo này của Bộ Hải quân Pháp đóng trên bản đồ chỉ được ban hành và tồn tại trong giai đoạn 1799-1804.

Việc đóng mộc chuẩn nhận tài liệu mật này chứng minh thành Vauban Gia Định chính thức là tài sản quân sự của nước Pháp từ năm 1799 – tức là tòa thành được hoàn thiện và đưa vào sử dụng từ năm 1799, chứ hoàn toàn không phải năm 1790 như sử cũ tô vẽ. Hơn nữa, vị đại tá Victor Olivier khi ấy mới chỉ 20 tuổi, chưa qua bất kỳ trường lớp kỹ thuật chính quy nào, thì chắc chắn không thể xây nổi một bức tường thành, chứ đừng nói đến một công trình đồ sộ, phức tạp như thành Vauban.

Cuốn sách ghi chép của giáo sĩ La Bissachère (hiện đang được lưu trữ chính thức tại Thư viện Quốc gia Pháp – Gallica), trong đó có chứa bản Hịch của Vua Quang Trung, đã khẳng định rõ: lực lượng pháo binh trực tiếp đánh nhau với quân Tây Sơn là người Pháp (quy mô 15.000 quân); lính Việt phải tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh của chỉ huy Pháp; hàng loạt lính Pháp tham gia đổ bộ đã bị ốm; có đến 7 lần trực tiếp khẳng định việc Nguyễn Ánh đã sang châu Âu diện kiến vua Pháp, trực tiếp ký Hiệp ước Versailles; xác nhận tàu chiến châu Âu đã trực tiếp tham chiến, đánh nhau với quân Tây Sơn.

Hơn nữa, những dòng chữ tiếng Pháp ghi rành rành trên bản đồ đã tố cáo tất cả: “Đại tá Victor Olivier lên ý tưởng năm 1790 tại Mauritius và kỹ sư Brun thực hiện đo đạc (levé) bản đồ thành Vauban năm 1795 khi thành hoàn thiện phần thô”. Qua tham vấn các chuyên gia kỹ thuật xây dựng Pháp, Kỹ sư Thanh khẳng định: Một siêu pháo đài với công nghệ Vauban phức tạp đòi hỏi tới 10.000 lính thợ cơ khí lành nghề của Pháp (do thợ bản xứ thời đó không nắm được công nghệ này) và phải thi công liên tục ít nhất 6 năm (thực tế, nhiều thành Vauban bên Pháp có quy mô nhỏ hơn Gia Định cũng cần tối thiểu 6 năm, thậm chí có thành xây mất 30 năm).

Như vậy, mốc thời gian logic nhất là thành Gia Định được khởi công từ năm 1792 và hoàn thiện vào năm 1799 – đây đã là một tốc độ thi công cực kỳ cấp tốc của công binh Pháp. Hoàn toàn không bao giờ có chuyện Nguyễn Ánh thiết kế và xây xong tòa thành khổng lồ này vào năm 1790.

Theo con dấu của Bộ Ngoại giao Pháp từ năm 1792 trên bản đồ Côn Đảo, kết hợp với bản Hịch 1792 của vua Quang Trung, dấu của Bộ Hải quân Pháp năm 1799 trên bản đồ Vauban Gia Định và thông tin trong sách của John Barrow, tất cả đều chứng minh rõ ràng: Pháp chỉ chiếm được Côn Đảo và Gia Định từ năm 1792. Lực lượng quân đội Pháp là khổng lồ, từ 15.000 quân lên tới 66.200 quân, nhằm đánh chiếm các khu vực hang dơi để lấy diêm tiêu

Vì sao nước Pháp gắn bó với Nguyễn Ánh đến vậy và thâm thù với Tây Sơn? Tất nhiên phải có lý do. Kỹ sư Thanh đã tìm thấy lý do đó từ cuốn sách với bản đồ Côn Đảo năm 1780: Lettres édifiantes et curieuses (tạm dịch: Những bức thư giáo huấn và kỳ thú), năm ra đời 1780. Cuốn sách này là cuốn sách gối đầu giường của thương gia, cướp biển, giới quân sự và phiêu lưu.

Trong cuốn sách đó có bản đồ Côn Đảo với một trại lính Pháp – đây là trại lính Pháp đóng lậu vì khi đó Đại Việt nội chiến (bản đồ này không có dấu của Bộ Ngoại giao Pháp như sau này). Vào năm 1783, sau khi bị quân Tây Sơn đánh bại, Nguyễn Ánh đã chạy ra Côn Đảo và được người Pháp che chở tại đây. Chính vì sự kiện này, Tây Sơn đã phải cử một đội chiến thuyền hùng hậu đến đập tan cứ điểm này và truy bắt Nguyễn Ánh.

Kỹ sư Vũ Đình Thanh đã đưa ra một bằng chứng đanh thép buộc giới sử học quốc tế phải nhìn nhận lại: Bản đồ hàng hải vùng cửa biển Cần Giờ – Vũng Tàu (Plan du Port de Candieu ou Saint Jacques) do Thuyền trưởng Rosily đo đạc trên siêu hạm Pháp La frégate La Méduse giai đoạn 1789–1790 (Nguồn: Thư viện Quốc gia Pháp – Gallica).

Mặt đồ bản cho thấy rõ ràng khu vực cửa sông Sài Gòn hoàn toàn trống trơn, tuyệt đối không có bất kỳ dấu hiệu trắc địa hay đo đạc luồng lạch nào. Theo thông lệ hàng hải thời bấy giờ, khi tàu chiến lớn neo đậu ngoài khơi, thủy thủ đoàn bắt buộc phải dùng thuyền nhỏ (chaloupe) tiến sâu vào nội địa để đo đạc lòng sông.

Vật chứng trắc địa này đã tố cáo một sự thật trên thực địa: Siêu hạm Pháp La Méduse – dù sở hữu hỏa lực 60 đại bác hạng nặng và thủy thủ đoàn lên tới 500 quân – cũng chỉ có thể lảng vảng do thám, đo đạc luồng lạch ngoài khơi cửa vịnh mà tuyệt đối không dám xâm nhập vào lòng sông Sài Gòn hay nội thành Gia Định dù biết sông Sài Gòn rất sâu. Lý do duy nhất chính là sự khiếp sợ trước mạng lưới hỏa lực phòng thủ bờ biển cực mạnh của nhà Tây Sơn, không muốn bị Tây Sơn thiêu cháy như chiến hạm của Manuel trước kia.

Thậm chí, chính sử nhà Nguyễn cũng vô tình thừa nhận sự thật này qua một “sự im lặng tuyệt đối”: Không một cuốn sử chính thống nào ghi chép lại sự kiện siêu hạm La Méduse tiến vào bến cảng Gia Định, mặc dù siêu hạm này rõ ràng đã áp sát và đo đạc ngay ngoài khơi Vũng Tàu, sát cửa ngõ Gia Định. Đây là bằng chứng khoa học không thể chối cãi, bẻ gãy các sử liệu lừa dối, khẳng định toàn bộ vùng Gia Định giai đoạn 1788–1791 vẫn nằm dưới quyền kiểm soát và phong tỏa nghiêm ngặt của triều đình Tây Sơn, trước khi cuộc xâm lăng của liên quân phương Tây chính thức nổ ra vào năm 1792.

Tương thích với thực tế quân sự đó, trong suốt dải thời gian từ năm 1787 đến năm 1792, không tồn tại bất kỳ sử liệu gốc nào có thể kiểm chứng được về việc giao thương nước ngoài hoặc nộp thuế cảng cho Nguyễn Ánh tại Gia Định. Hoàn toàn trống vắng mọi cuộc thăm viếng ngoại giao, dù là nhỏ nhất, của bất kỳ quốc gia nào với Nguyễn Ánh tại vùng đất này. Đặc biệt, tuyệt đối không có bất kỳ một lá thư gốc đương đại nào của các giáo sĩ Pháp được công bố hoặc số hóa mở trên Internet trong thời gian 1788–1792 mô tả trực diện cảnh xây thành hay rèn đúc vũ khí cho Nguyễn Ánh tại Gia Định.

Tất cả các chuỗi mắt xích vật chứng này đã khẳng định nội dung bản Hịch năm 1792 của Hoàng đế Quang Trung là hoàn toàn chính xác: Cho tới tận năm 1792, toàn dân Đại Việt không hề biết Nguyễn Ánh – “kẻ khốn khổ” (misérable) – đang lưu lạc nơi đâu. Cục diện Gia Định thực chất chỉ bị đảo lộn từ mốc chiến sự năm 1792, khi giặc phương Tây (“giặc mắt rắn xanh”) sử dụng hạm đội tàu bọc đồng bất ngờ đổ bộ đánh chiếm các bến cảng.

Bất cứ ai cũng có thể tra cứu hai ấn phẩm tại Thư viện Quốc gia Pháp La relation sur le Tonkin et la Cochinchine (Maybon, 1920) và Etat actuel du Tunkin (Montyon, 1811) để tận mắt chứng kiến Nguyễn Ánh không hề có mặt thời gian dài ở Gia Định tới 1792. Đối với nhân dân Gia Định, Nguyễn Ánh là quá khứ họ chỉ còn nghe thấy

Nghiên cứu của Kỹ sư Thanh với các bằng chứng đang tồn tại chứng minh: Hoàng đế Quang Trung là người đã thống nhất đất nước. Đại Việt thời Hoàng đế Quang Trung trải dài từ xa ngoài ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Rất nhiều vùng đất hiện nay đã bị nhà Nguyễn cắt cho Lào, Campuchia. Diện tích Đại Việt thời Hoàng đế Quang Trung là 1,7 lần so với diện tích hiện nay. Lào và Campuchia hoàn toàn lệ thuộc Đại Việt. Hoàng đế Quang Trung đòi Lưỡng Quảng và đã được vua Thanh chấp nhận.

Đại Việt thời Hoàng đế Quang Trung không có nội chiến, mà là cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại nhất chống lại thực dân Pháp, với chiến thắng nghìn quân Pháp tại Côn Đảo, tiêu diệt 1.650 quân năm 1788, tiêu diệt hàng vạn quân Pháp từ 1792 đến 1802. Chính sức mạnh của Tây Sơn đã giữ cho Đại Việt  được độc lập thêm gần 100  năm nữa, con dân Việt không bị bán làm nô lệ như ở nhiều nước khác. Đây là sự thật lịch sử mà bất kỳ người Việt nào cũng phải khắc cốt ghi tâm.

Để có được sức mạnh đó là nhờ Đại Việt sở hữu vũ khí phốt pho. Vũ khí này là nguyên nhân trực tiếp khiến vua Pháp phải chết năm 1793. Kể cả sau khi Hoàng đế Quang Trung qua đời, Đại Việt thời vua Cảnh Thịnh gần như chiến thắng 66.200 quân Pháp/Ấn và chỉ bị thua khi Napoleon đổ hàng vạn quân Hải quân Pháp với cướp biển nhà nước đánh Phú Xuân 1801.

Vũ khí phốt pho cũng trực tiếp giúp Nguyễn Ánh không bị làm vua bù nhìn như kịch bản mà thực dân Anh đã thực thi với rất nhiều vua chúa Ấn Độ, châu Phi. Vũ khí phốt pho được chế tạo từ phân chim và phân dơi, và đó là điều mà dưới thời Hoàng đế Quang Trung, tất cả mọi hòn đảo có phân chim ngoài Biển Đông – không chỉ Hoàng Sa, Trường Sa – là tài sản sống còn của Đại Việt thời Tây Sơn.

Những luận điểm của Kỹ sư Thanh đưa ra được xây dựng trên một nền tảng tư duy khoa học, thực dụng và sắc bén nhất: Tư duy Kỹ thuật, Quản trị Chuỗi cung ứng và Kiểm toán Hệ thống.

Lịch sử truyền thống thường dễ bị chi phối bởi yếu tố chính trị, cảm xúc và những văn tự được phe chiến thắng nhào nặn. Nhưng toán học, vật lý, hóa học và sổ sách kế toán thì không biết nói dối. Khối logic của Kỹ sư Thanh tựa trên những định luật khoa học bất biến của thực tế.